tùy bút sông đà 1960

Trong quá trình phân tích hình tượng người lái đò sông Đà, ta thấy tác phẩm tiêu biểu cho giai đoạn sáng tác sau cách mạng của Nguyễn Tuân là tập tùy bút sông Đà. Đây là kết quả của chuyến đi thực tế đến Tây Bắc năm 1958 đến 1960. Tùy bút "Người lái đò sông Đà" được in trong tập Sông Đà (1960) của nhà văn Nguyễn Tuân là kết quả nhiều lần nhà văn đến với Tây Bắc trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Nguyễn Tuân đến với mảnh đất Tây Bắc không phải để thỏa mãn " cơ hội Đó là nghệ thuật miêu tả rất tinh vi, sắc sảo, độc đáo và đầy tài hoa. Điều đó được thể hiện rất rõ trong các tác phẩm của ông tiêu biểu là đoạn Người lái đò sông đã trích từ tập tùy bút Sông Đà viết năm 1960. Năm 1996, nhà văn Nguyễn Tuân được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I, cho các tác phẩm "Nguyễn" (truyện ngắn, 1945), "Đường vui" (tùy bút, 1949), "Tùy bút kháng chiến" (1955), "Sông Đà" (tùy bút, 1960), "Tình chiến dịch" (tùy bút, 1960), "Hà Nội ta đánh Mỹ Tập tuỳ bút Sông Đà do Nhà xuất bản Văn học in lần thứ nhất năm 1960 gồm mười bốn bài tuỳ bút và một bài thơ ở dạng phác thảo. Nhà xuất bản Tác phẩm mới in lần thứ hai năm 1978 có thêm bài Sông Đà đỏ (viết năm 1976), đặt vào cuốn sách, có ý nghĩa như lời bạt. Tuỳ bút "Người lái đò sông Đà" là một trong những tác phẩm đặc sắc của Nguyễn Tuân được in trong tập sông Đà (1960). Viết tuỳ bút này Nguyễn Vay Tiền Nhanh Ggads. Lượt xem SPECIAL CHARACTERISTICS OF ART LANGUAGE OF NGUYEN TUAN THROUGH NGUOI LAI DO SONG DA TRẦN THỊ KIM CHITrường Đại học Thủ đô Hà Nội TÓM TẮT Chương trình môn Ngữ văn nói riêng và giáo dục phổ thông mới nói chung yêu cầu sự liên kết giữa các môn học. Phương pháp dạy học liên môn nên được áp dụng rộng rãi. Người dạy phải linh hoạt vận dụng nhiều biện pháp, thao tác, kỹ năng để giảng dạy tốt hơn, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh thông qua từng môn học, bài học. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi tìm hiểu đặc sắc ngôn từ nghệ thuật trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân – một nhà văn đã quá quen thuộc với bạn đọc và có tác phẩm được lựa chọn giảng dạy trong chương trình mới. Từ khóa tính tạo hình biểu cảm, liên thông tri thức, tùy bút, Nguyễn Tuân, Người lái đò sông Đà. ABSTRACT The new program in literature and general education, overall, requires the connection with subjects. The method of interdisciplinary teaching should be widely applied. Teachers must apply a variety of measures, activities, skills for better lessons and improve educational quality for students in all aspects. In this article, we focused on the survey on the skill to utilize knowledge from different subjects in comprehension of the Ferryman on Da river Nguyen Tuan from a linguistic perspective. Keywords Expression, work, inter-knowledge Nguyen Tuan, the Ferryman on Da river. xx x 1. Đặt vấn đề Liên thông tri thức là thao tác quan trọng nhất của phương pháp dạy học liên môn. Cách dạy học tích hợp, liên môn trong dạy đọc hiểu một văn bản nghệ thuật thực chất là sự vận dụng những nội dung và phương pháp của các lĩnh vực, các môn học có liên quan nhằm đạt hiệu quả tối ưu trong hoạt động dạy và học ở nhà trường phổ thông. Về bản chất, liên thông tri thức chính là hạt nhân của tích hợp, là nội dung quan trọng trong việc đổi mới sách giáo khoa, đổi mới phương pháp giảng dạy trong nhà trường hiện nay. Trong trường phổ thông, Ngữ văn là môn học có sự liên thông tri thức đa dạng nhất từ sự hợp lực của ba phân môn Văn học – Tiếng Việt – Tập làm văn tới tích hợp kiến thức của các môn học khác Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân…; từ kiến thức trong cuộc sống xã hội tới các tri thức kỹ năng, phương pháp giảng dạy, kinh nghiệm của thực tiễn… Tác phẩm của Nguyễn Tuân được lựa chọn giảng dạy trong chương trình Ngữ văn mới lớp 10-12 là truyện ngắn Chữ người tử tù [1], song không riêng gì truyện ngắn, ngay trong lĩnh vực tùy bút, ông từ lâu đã nổi tiếng là một bậc thầy của nghệ thuật sáng tạo ngôn từ. Trong khuôn khổ có giới hạn, bài viết này xin được bàn thêm về khía cạnh đặc sắc ấy của ngôn từ nghệ thuật Nguyễn Tuân qua tùy bút Người lái đò sông Đà. 2. Nội dung Xuất hiện trên đàn văn vào cuối thập niên 30 và đầu 40 thế kỷ XX, ngay lập tức Nguyễn Tuân đã khẳng định tên tuổi của mình “ở một văn phẩm gần như thâu tóm và kết tinh mọi tinh hoa làm nên sự hoàn thiện và hoàn mỹ của một phong cách viết Vang bóng một thời” [2]. Ngoài truyện ký, Nguyễn Tuân còn viết tiểu luận phê bình và viết các chân dung văn học. Ông viết về tiếng Việt giàu và đẹp, về Truyện Kiều, về Tú Xương, Tản Đà, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nguyễn Huy Tưởng, Thạch Lam, về Dostoyevsky, Sekhov, Lỗ Tấn… Với vốn hiểu biết phong phú trong nhiều lĩnh vực, với năng lực thẩm mỹ sắc sảo và lối viết tài hoa phóng túng, những bài viết đó thường giàu trí tuệ, có những phát hiện độc đáo, tâm đắc. Tuy nhiên, người ta nhớ đến nhà văn lớn này không chỉ vì phong cách ngông không ai theo được mà còn bởi những ấn tượng đậm nét về thể loại tùy bút – sở trường của nhà văn. Sở dĩ Nguyễn Tuân được mệnh danh “tùy bút gia” của văn xuôi hiện đại Việt Nam vì ở mảng sáng tác này, Nguyễn Tuân “khoe” được cá tính độc đáo đủ đầy nhất; đồng thời ông chứng tỏ mình thực sự là một bậc thầy ngôn từ mà rất lâu nữa mới có nhà văn khác sánh kịp. “Giới nghiên cứu ca tụng những bữa tiệc ngôn từ trên trang văn Nguyễn Tuân và đề cập đến việc soạn một từ điển ngôn ngữ Nguyễn Tuân bởi những gì ông đã góp vào kho từ vựng chung của tiếng Việt. Người ta hiểu rằng cả một vùng trời lung linh ngôn ngữ ấy là tinh kết của một cuộc sống từng trải, si mê góp nhặt từng mảy vàng tiếng mẹ đẻ…” [2]. Tập tùy bút Sông Đà 1960 gồm 15 bài và một bài thơ phác thảo; trong đó, đặc sắc hơn cả là tùy bút Người lái đò sông Đà. Tập tùy bút này là kết quả chuyến đi thực tế lên Tây Bắc của Nguyễn Tuân những năm 1958 – 1960. Trở lại vùng đất đã từng gắn bó với ông những năm kháng chiến chống Pháp gian khổ, Nguyễn Tuân như được sống lại với những kỉ niệm thân thuộc và cảm xúc nghệ sĩ lại dâng trào trong tâm hồn ông. Cảnh vật và con người Tây Bắc đã có một sức hấp dẫn cuốn hút đặc biệt đối với Nguyễn Tuân. Ông say mê trước vẻ đẹp thơ mộng trữ tình và cả cái hoang sơ dữ dội của thiên nhiên Tây Bắc, tự nhận mình là người “đi tìm thứ vàng của màu sắc sông núi Tây Bắc” sẵn có trong mỗi con người lao động bình dị như người lái đò trên sông Đà. Tùy bút Người lái đò sông Đà chất chứa niềm trân trọng và mê say ấy, nên có thể coi nó là áng văn nghệ thuật đầy chất thơ, một bài ca bất tuyệt về con người trong cuộc đối đầu với tự nhiên để sinh tồn. Tính tạo hình biểu cảm của ngôn từ Sự tài hoa của Nguyễn Tuân trong sáng tạo nghệ thuật thể hiện trước hết ở sự phát hiện các “tâm điểm” và tập trung miêu tả, nhấn mạnh nó bằng lối hành văn và hệ thống ngôn từ giàu tính thẩm mĩ, chính xác, súc tích, đặc biệt phóng khoáng và tinh tế. Người lái đò trong tùy bút là một người ở Quỳnh Nhai mà ngay từ lần gặp đầu tiên nhà văn đã cảm giác như “một người tình nhân muôn thuở, một anh Trương Chi nào của một dòng sông nhiều trữ tình này … một linh hồn muôn thuở của sông nước này” [3, kể từ đây các trích dẫn đều lấy từ cuốn này]. Vẻ đẹp riêng của con người lao động trên sông nước được nhà văn cắt nghĩa “hình như con sông đã tạo cho họ một cách cảm một cách nói vừa rắn rỏi vừa uyển chuyển âm trầm” câu chuyện kể của bất cứ con người nào mưu sinh trên sông nước “đều dội lên dư âm của thác đá sông Đà” Câu chuyện kể của người lái đò ở Quỳnh Nhai thì “gân guốc như bắp tay, bắp chân họ cuộn sóng thừng lên những lúc lao động cường độ để đánh nhau với thác nước sông Đà. Rồi hơi lại chuyển êm ru đi như dòng sông lặng tờ, sau những khúc ào ào ghềnh thác vọt nước qua mạn đò” Đó là những người lao động hiểu sông Đà đến mức “trí nhớ ông được rèn luyện cao độ bằng cách lấy mắt mà nhớ tỉ mỉ như đóng đanh vào lòng tất cả những luồng nước của tất cả những con thác hiểm trở. Sông Đà đối với ông lái đò ấy, như một thiên anh hùng ca mà ông đã thuộc đến cả cái chấm than chấm câu và những đoạn xuống dòng” Những người lái đò trên sông Đà thường có một vết bầm hình tròn trên ngực vú, bả vai vì đó là “vết nghề nghiệp của đầu con sào gởi lại đời đời cho người lái đò sông Đà”, Nguyễn Tuân cho rằng “cái đồng tiền tụ máu cũng là cái hình ảnh quý giá của một thứ huân chương lao động siêu hạng tặng cho người lái đò sông Đà” Rất khó để lựa chọn từ/cụm từ nào thú vị nhất vì bản thân hành văn của Nguyễn Tuân đã bao gồm khâu lựa chọn đến việc sắp xếp ngôn ngữ theo một trường liên tưởng kỳ thú. Hình tượng sông Đà trong tùy bút của Nguyễn Tuân cũng được sống dậy nhờ những áng văn gợi cảm. Không khí cổ xưa của các châu lộ thời nào vẳng lại bởi tiếng trống gọi chiều về “Trên bến Quỳnh Nhai, tiếng trống trên châu vừa thu không, các thuyền độc mộc đi làm nương bắp xa từ sáng sớm đã trở về bến gần hết…” có lúc sông mơ màng trong sương khói mây trời “Con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân” Cái sự độc đáo ở đây nằm ở từ “áng tóc trữ tình”, đó là sự kết hợp giữa “mái tóc” và “áng thơ”, để trong một từ “áng tóc” người đọc có thể hình dung sông đẹp như mái tóc của mĩ nữ trải dài giữa núi rừng xanh ngát hoang sơ. Dòng sông Đà qua sự miêu tả của nhà văn luôn có hồn, nó tích tụ những lớp trầm tích của lịch sử và con người Tây Bắc. Có lúc sông tươi vui trong thứ nắng mật ong “Bờ sông Đà, bãi sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên sông Đà. Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng dòn tan sau kỳ mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng”, khi thì lại hồn nhiên và đầy bí hiểm “bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử, bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa” Nguyễn Tuân vốn là bậc thầy trong sáng tạo ngôn từ tiếng Việt, nên không thể không nhắc tới vô số sự kết hợp từ quen để tạo ra một từ/cụm từ mới nhằm diễn đạt sinh động một khái niệm. Nếu những khoáng sản giàu có ẩn trong lòng rừng núi Tây Bắc được nhà văn gọi là “chất vàng mười của Tổ Quốc” thì con người lao động trên vùng đất đó, con sông đó đích thị là “chất vàng mười đã qua thử lửa”. Những con người Tây Bắc bình dị như người lái đò kia, trong cuộc mưu sinh gian khó, trong những nỗ lực xây dựng, kiến thiết, làm cho Tây Bắc thêm tươi đẹp, đã được tôi luyện, đủ khả năng chống chọi và chinh phục thiên nhiên hiểm trở; họ “quý hơn tất cả những của chìm của nổi ở Tây Bắc”. Sự khẳng định này dẫn đến một sự khẳng định khác chẳng mấy ăn nhập nhưng lại rất chính xác và thú vị “cái vốn người bản địa đưa từ đồng bằng lên tăng cường quân số lao động cho các nông trường, công trường Tây Bắc, đó là những đồng tiền vàng đem vào đầu tư đời sống Tây Bắc ngày nay” Ngoài miêu tả thiên nhiên hoang sơ hiểm trở, Nguyễn Tuân còn có biệt tài khắc họa chân dung con người. Ông lái đò gần 70 tuổi trong tùy bút đi vào tâm trí bạn đọc với “cái đầu quắc thước đặt trên một thân hình cao to và gọn quánh như chất sừng chất mun”; “khuôn mặt ông he hé một nửa miệng cười”; “tay ông lêu nghêu như cái sào, chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh gò lại như kẹp lấy một cái cuống lái tưởng tượng, giọng ông ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh sông, nhỡn giới ông vòi vọi như lúc nào cũng mong một cái bến xa nào trong sương mù…” “Ông giơ đôi tay lên, đôi cánh tay trẻ tráng quá…” Nghề lái đò trên con sông nhiều gềnh thác như sông Đà đòi hỏi những người như ông “cứ dựng đứng lên mà luôn tay luôn chân luôn mắt luôn gân và luôn tim nữa” Tả xung hữu đột giữa vòng vây của đám thạch trận tai quái, ông lão lái đò vừa dũng mãnh như một vị tướng quân “nắm chặt được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái” vừa ung dung như một kẻ nhàn tản đang đi thưởng ngoạn; vượt thác rồi, bao nhiêu “sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ” Nếu phần tài hoa bộc lộ ở hành văn và ngôn từ biểu đạt thì sự uyên bác thể hiện ở sự am hiểu sâu và rộng về văn chương, nghệ thuật, những lĩnh vực khác nhau của đời sống. Trong tùy bút này, có nhiều đoạn văn chứa đựng vùng tri thức liên quan tới nghệ thuật được nhà văn vận dụng để tái hiện hình tượng sông Đà. Đó là sự tinh tế trong lọc chọn ngôn từ và cách diễn đạt của văn chương giàu nghệ thuật. Những con thuyền then đuôi én được miêu tả “dài mình mới thắt bụng lại như một cô thiếu nữ thít chặt cặp xiêm chưa muốn vội làm người mẹ” Còn nắng trên sông Đà là cái nắng của Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu”, của đồng dao thần thoại “Núi cao sông hãy còn dài – năm năm báo oán đời đời đánh ghen” của Tản Đà “Dải sông Đà bọt nước lênh bênh – Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình”, “là người tình nhân chưa hề quen biết” của Nguyễn Quang Bích “Lòng trung không nỡ bỏ Tây Châu – Giữ lấy Thao, Đà dải thượng lưu”, “Chúng thủy giai Đông tẩu – Đà Giang độc Bắc lưu” Nhà văn còn tỏ ra rất am hiểu về nghệ thuật điện ảnh mặc dù những năm 60 của thế kỷ XX điện ảnh không phổ biến ở Việt Nam. Ông sử dụng nhiều thuật ngữ và liên tưởng, kĩ xảo có tính nghề nghiệp trong bài tùy bút này. Chẳng hạn “về mặt tạo hình, cảnh này kéo thuyền vượt thác còn phong phú hơn cả người hò đò trên sông Vôn- ga” hay sự hình dung về những xoáy, hút nước trên sông “Tôi sợ hãi mà nghĩ tới một anh bạn quay phim táo tợn nào muốn truyền cảm giác lạ cho khán giả đã dũng cảm ngồi vào một cái thuyền thúng tròn vành rồi cho cả thuyền cả mình cả máy quay xuống đáy cái hút sông Đà – từ đáy cái hút nhìn ngược lên vách thành hút mặt sông chênh nhau tới một cột nước cao đến vài sải. Thế rồi thu ảnh. Cái thuyền xoay tít, những thước phim màu cũng quay tít, cái máy lia ngược contre- plongee lên một cái mặt giếng” nhờ vậy mà thước phim kí sự quay được ấy sẽ truyền tới người xem cảm giác chân thực tới mức khi xem phải “lấy gân ngồi giữ chặt ghế” và lên kế hoạch cho mai sau “Tôi nghĩ sau này làm phim truyện hoặc phim ký sự màu về sông Đà … phải đưa ống kính quay phim lên tàu bay. Cho bay là là trên cái thác mà dí máy xuống mà lượn ống máy theo những luồng sinh của thác” Sự liên thông tri thức qua ngôn từ, hình ảnh Một trong hai đối tượng nghệ thuật của tùy bút là người lái đò trên Sông Đà. Để tái dựng chính xác công việc của con người lao động trên sông nước, trước hết, Nguyễn Tuân sử dụng một hệ thống các thuật ngữ, các khái niệm, cách thức hành động, lượng thông tin hiểu biết rõ ràng… mà chỉ người trong nghề mới thực sự hiểu. Bắt đầu bằng những bài học căn bản “chỗ bằng thì chèo; chỗ dựng vách đá thì chống; ngược thác mà bờ bằng thì kéo. Ngược, tốn lực và lâu thì giờ hơn xuôi, xuôi thì nhanh vèo vèo, nhưng ngược thì đỡ nguy hiểm hơn xuôi. Sông Đà nước đục khó đi hơn là lúc nước trong” muốn “kéo thuyền ngược thác, chớ có kéo dài lắt nhắt ra thành nhiều hơi nghỉ. Gối mà run, vai mà mỏi, cứ nghỉ lấy sức cho đủ, thấy đủ rồi thì hô dô ta nhất tề mà kéo miết một hơi qua thác …, cứ dềnh dàng vừa kéo vừa nghỉ hơi là nước nó xô xuống, nó thúc xuống là vỡ toi, là băng cái thuyền” Qua những thác hiểm trở, cảnh kéo đò thật như kéo pháo, phải dỡ hết hàng trong lòng thuyền, “tuyệt đối không để sót một sợi chỉ một cái kim trong khoang thuyền” Muốn xác định ai là người chèo thuyền giỏi có thể dựa vào cách mà họ vượt thác nước. Làm thế nào để biết họ vượt thác giỏi? giỏi là người “vào thác mà không trệch đường tim luồng nước sinh sống” người lái phải thẳng tay lái, nhạy bén, thẳng dòng, sự ước lượng của đôi mắt phải chính xác. Trong vô số cái “luồng giận dữ” của một con thác, bao giờ cũng có “một luồng êm, cứ đi đúng vào chính giữa cái luồng tương đối đằm dịu ấy, thì thuyền ta cứ muôn đời mà êm” Nhà văn cũng cung cấp cho người đọc hiểu vì sao người Tây Bắc không chuộng dùng những con thuyền có khoang bụng rộng như dưới xuôi ta thường gặp. Thuyền bụng to thì chứ được nhiều hàng nhưng người Tây Bắc không đóng thuyền bụng to dù “thiếu gì gỗ” chỉ vì có thể thuyền sẽ bị đá trong lòng sông “thắt chịt” lấy mà mắc kẹt, nên người Tây Bắc chỉ đóng những con thuyền then đuôi én. Thuyền càng thon, càng lách mau qua thác. Ngay cả trong cách kể về đời sống và tính cách những người lái đò, nhà văn cũng thường xuyên mượn những hình ảnh so sánh gần gũi với công việc của người lái đò, xóa bỏ những khoảng cách giữa người viết và nhân vật. Thì đó, khi ông đò Lai Châu chuyển câu chuyện sang hướng khác, nhà văn thầm so sánh câu chuyện rẽ “như một tay lái ngang sông miết theo luồng thác bắt chéo” Tùy bút Người lái đò Sông Đà còn hấp dẫn người đọc bởi từng trang văn mở ra một vùng văn hóa sông nước chứa những điều thú vị mà người đọc chưa từng biết tới Những người vượt thác sông Đà thường có nhiều người kéo đò, họ hò lên “nghe âm u ghê rợn không kém gì đoàn hò đò sông Vôn-ga thời Nga hoàng” Hình ảnh lạ lùng chỉ có người lái đò Lai Châu mới hiểu “Người lái đò Lai Châu hay cởi truồng. Người lái đò sông Đà hay mặc áo mà không mặc quần. Có khi muốn đóng khố nhưng cũng không đóng được. Cát sông Đà rất hay ăn da người chở đò. Hễ mặc quần hoặc đóng khố là cát chui ngay vào bẹn rồi loét da” Cũng vì cát trong lòng sông mà “cứ nhìn đôi bàn chân nhau thì nhận ra ngay người lái đò sông Đà. Cát đục thủng gan bàn chân lỗ rỗ như những vệt hà đục đáy và mạn dưới các thuyền gỗ. Lái đò yếu nhất là đôi chân, họ chạy rất kém. Họ khỏe nhất hai cánh tay. Người thường ăn hai lạng rưỡi gạo, họ phải ăn đến bảy tám lạng” Những con thác dữ tợn hút không biết bao cái thuyền nên “thuyền qua đấy vẫn còn có tục hóa vàng, mổ gà mổ vịt cúng thần đá thác” Nguyễn Tuân còn đưa vào tùy bút lượng thông tin lớn về lịch sử, địa lý của dòng sông. Về phương diện lịch sử, nhà văn cung cấp thông tin “Sông Đà khai sinh ở huyện Cảnh Đông tỉnh Vân Nam, lấy tên là Ly Tiên theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi thì tên Trung Quốc của sông Đà lại là bả Biên Giang mà đi qua một vùng núi ác, rồi đến gần nửa đường thì xin nhập quốc tịch Việt Nam, trưởng thành mãi lên và đến ngã ba Trung Hà thì chan hòa vào sông Hồng” Ngược dòng thời gian, người đọc biết “thời cũ tên sông Đà được dùng làm tên đạo tên lộ. Trong số 15 lộ hành chính đời Trần, có Đà Giang lộ gồm những đất đai từ tỉnh Hưng Hóa ngược lên” Rồi những năm kháng chiến, khánh Nhật, thời bao cấp…, người dân ở địa giới loang ra đôi bờ sông Đà đã làm bao việc có ích cho cách mạng, cho tới khi Đảng và Nhà nước quy hoạch, tính đến việc trị thủy để thắp sáng khắp nơi. Từ góc nhìn địa lý, nhà văn mô tả chính xác kiến thức khoa học “Từ biên giới Trung Việt tới ngã ba Trung Hà là 500 cây số lượn rồng rắn, và tính toàn thân Sông Đà thì chiều dài là 883 nghìn thước mét chảy qua hai nước Việt Nam, Trung Quốc” Các địa danh đánh dấu được trên bản đồ Tây Bắc Quỳnh Nhai, Mường Chiên, Lai Châu, Chợ Bờ, bến Phà Đen; bến Sa San trung Quốc, Mường Lay, Hòa Bình, Phương Lâm, Mường Phù Yên… 73 cái thác trên Sông Đà, có tên, tính cách khác nhau. Cách biên giới Trung Quốc phía Vân Nam khoảng mươi cây số là thác Kẻng Mỏ Trên. Rồi đến thác La Sa, thác Hát Vá, thác Mằn Hi, thác Mằn Lay. Rồi Hát Nhạt, Mằn Thắm, Hát No Kéo, Kẻng Mỏ Dưới. Rồi đến Hát Lai … Hát Pi, Hát Soong Pút, Hát Soong Mon, Hát Mố, Hát Kếch, Hát Moong, Hát Tiếu …. Thác En, Thác Giăng, Bãi Chuối, Mó Sách, Bãi Lồi, Bãi Lành, Mó Tôm, Mó Nàng, Nánh Kẹp, Quai Chuông, Tà Phù, Bãi Nai, Ba Hòn Gươm, Phố Khủa, Ghềnh Đồng, Suối Bạc, O Gà, Bãi Nhạp, Cánh Cuốn, Mèo Quen, Hang Miến, Quần Cốc, Suối Trông, Bãi Ban, Diềm, Thác Rút, Thác Mẹ, Bãi Thằng Rồ, Mó Tuần, Suối Hoa, Hót Gió, Thác Bờ. Đôi lúc, người đọc tùy bút của Nguyễn Tuân có cảm giác dễ bị “bội thực” thông tin bởi trong cùng một đặc điểm của dòng sông, nhà văn “kéo” vô số những liên tưởng – thuật ngữ – chi tiết thuộc các ngành, nghề khác nhau của đời sống, buộc người đọc phải nhận ra thật rõ đặc điểm của đối tượng nghệ thuật. Miêu tả cuộc chiến không khoan nhượng diễn ra mỗi ngày giữa nhà đò với sông Đà, nhà văn sử dụng vô số thuật ngữ quân sự “thủy chiến” trên sông Đà; đá ở đây “ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông”, mỗi lần có con thuyền nào đi qua “là một số hòn đều nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền”, “mới thấy rằng đây là nó bày thạch trận trên sông”; “Đám tảng đám hòn chia làm ba hàng chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền”; “một cuộc giáp lá cà đá dàn trận địa”, “dụ thuyền đối phương”, “cái thuyền du kích”, “đánh khuýp quật vu hồi”, “những bong-ke chìm, những pháo đài nổi”, “giao chiến”… Những “luồng sóng đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm”, “hỗn chiến”, “chỉ huy”, “phá xong cái trùng vi thạch trận”, “đổi chiến thuật”, “nắm chắc binh pháp”, “thuộc quy luật phục kích”, “cửa sinh, của tử”, “tập đoàn cửa tử”, “tướng dữ quân tợn”… Rất nhiều thuật ngữ thuộc về công nghiệp khai thác khoáng sản, địa chất “phát hiện vỉa quặng mỏ kim”; “Chỗ nào cũng có vàng cốm, nhỏ thì bằng gạo tấm, lớn thì bằng hạt ngô, có con vịt bầu mổ ra là lấy được trong mề vịt hàng mấy đồng cân vàng” những “quặng, có đồng, có đá bông, than mỡ và vỉa than ăn từ bến nào đén bến nào”; anh bạn trẻ Cục khoáng chất “vừa tìm được cái luồng đi liên tục của mỏ quặng, mỏ kim qua các triền núi ven sông” Để người đọc hình dung rõ cái hiểm trở ghê rợn của con thuyền vượt thác ghềnh trên sông, nhà văn mô tả nhờ sự liên tưởng tới thuật ngữ của dân lái xe đường bộ “Đường bộ ô tô xuống đèo, đường thủy thuyền xuống thác nó khác nhau ở cái điểm ô tô có máy pham hãm lại mà thuyền thì không. Một cái đèo ngùng ngoằng chữ chi gấp góc vừa thuận vừa nghịch có liên hồi đến chín mươi đợt cấp sát mép vực, có bị mùa mưa rê đít xe hoặc bánh quay không, cũng không khó bằng xuống thác” hay “lao xe xuống dốc thì dùng phanh chân phanh tay, những góc ác, thì tiến lên lùi lại, một đỏ không lọt thì hai đỏ, xe mà mười bánh thì ba đỏ. Còn như cái thuyền xuống thác thì chả có cái phanh nào, chỉ có lao đi chứ không lùi gì cả, chờ gì cả, hãm chậm gì cả” Các con thuyền vượt thác ghềnh được miêu tả khác nào những chiếc thuyền đua, xe đua “Thuyền nào qua cũng chèo nhanh để lướt qua quãng sông, y như là ô tô sang số ấn ga cho nhanh để vút qua một quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực” Ngoài ra, sự tổng hợp vốn kiến thức phong phú của đời sống, sự am hiểu tỉ mỉ những chi tiết nhỏ nhất của đời sống cũng giúp nhà văn miêu tả tỉ mỉ, vừa chân thực vừa gợi nhiều liên tưởng những gian khổ hiểm nguy khôn lường của dòng sông Đà và những người thường xuyên gắn bó với nó, sống trên sông Đà “nước Sông Đà reo như đun sôi lên một trăm độ muốn hất tung đi một cái thuyền đang đóng vai một cái nắp ấm một ấm nước sôi khổng lồ”; quãng sông khác, “mặt sông cũng có ổ gà như mặt đường cạn, đi vào ổ gà sông là thuyền bị giật xuống bị dồi lên” Ghềnh Hát Loóng hung bạo tới nỗi quanh năm gầm gào “như muốn đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò sông Đà nào tóm được qua đó”. Quãng này mà khinh suất tay lái “thì cũng đã lật ngửa bụng thuyền ra”… Thậm chí, “trên sông bỗng có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông thả xuống chuẩn bị làm móng cầu” …. Nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc” Thạch trận bày ra chẳng khác sự bố trí của một trận bóng quyết liệt, có “hàng tiền vệ”, “bọn đá hậu vệ”, “tuyến giữa”, “chọc thủng tuyến hai”, “lưới đá tuyến trên”, có lúc chẳng khác nào ông đò đang tham dự một keo đấu vật với sóng nước hung tợn, trong đó sóng nước liều mạng “đá trái, thúc gối vào bụng và hông thuyền …. Nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình ra”. Nó ghê gớm tới mức sóng nước “bóp chặt hạ bộ người lái đò, hột sinh dục vụt muốn thọt lên cổ” Cách dụng ngôn mang tính chiến thuật quân sự này khiến sông Đà không còn là một thực thể tự nhiên, mà trở thành một sinh thể có tính cách – thứ tính cách hung bạo, hiện rõ hình “kẻ thù số một của con người Tây Bắc”. 3. Kết luận Như phần trên đã đề cập, với cách dạy học tích hợp liên môn, giáo viên có thể giúp học sinh tiếp cận một văn bản ở rất nhiều góc độ. Với văn bản Người lái đò sông Đà, tri thức lịch sử – địa lý – văn học vùng đất Tây Bắc là rất hữu ích. Thời kỳ cách mạng và kháng chiến, vùng đất này là nguồn cảm hứng vô tận cho thơ của Tố Hữu, Quang Dũng, Chế Lan Viên; văn xuôi của Tô Hoài, Hữu Mai… âm nhạc của Đỗ Nhuận, Cầm Giang – Bùi Đức Hạnh, họa phẩm của Nguyễn Gia Trí, Bùi Xuân Phái… Người lái đò sông Đà chau chuốt và phóng khoáng về ngôn từ, có ngôn từ khoa học, có ngôn từ thể thao, có ngôn từ quân sự, có ngôn từ đời thường… Dù là kiểu ngôn từ nào thì nét nổi bật vẫn là chất tài hoa uyên bác. Khai thác nét đặc sắc này trong giờ dạy tác giả, tác phẩm vừa mang lại xúc cảm thẩm mĩ tinh tế cho học sinh, vừa thấy được những sáng tạo đặc biệt của nhà văn về trí tuệ và ngôn từ. Nguyễn Tuân trong tùy bút hay truyện ngắn là vậy, và Nguyễn Tuân xưa nay trong cảm nhận của độc giả vẫn là vậy. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bộ Giáo dục và Đào tạo 2018, Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn, – Dự thảo ngày 19 tháng 1 năm 2018. 2. Thanh Hoa, Nguyễn Tuân, bậc thầy về tùy bút, – Https// 3. Nguyễn Tuân, Nguyễn Tuân tuyển tập, – Nxb Văn học, Hà Nội, 2012. Nguồn Tạp chí Khoa học Trường Đại học Thủ đô Hà Nội, ISSN 2354-1512Số 33, Khoa học Xã hội & Giáo dục, Tháng 8, Năm 2019Thánh Địa Việt Nam Học I. Tìm hiểu chungHoàn cảnh sáng tác– Tùy bút Người lái đò Sông Đà được in trong tập Tuỳ bút sông Đà 1960, gồm mười lăm bài tùy bút và một bài thơ ở dạng phác thảo.– Tác phẩm được viết trong thời kì xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Đó là kết quả của chuyến đi thực tế của nhà văn đến Tây Bắc trong kháng chiến chống Pháp, đặc biệt là chuyến đi thực tế năm 1958. Nguyễn Tuân đến với nhiều vùng đất khác nhau, sống với bộ đội, công nhân và đồng bào các dân tộc. Thực tiễn xây dựng cuộc sống mới ở vùng cao đã đem đến cho nhà văn nguồn cảm hứng sáng Chủ đề– Ngoài phong cảnh Tây Bắc uy nghiêm, hùng vĩ và tuyệt vời thơ mộng, Nguyễn Tuân còn phát hiện những điểm quý báu trong tâm hồn con người mà ông gọi là “thứ vàng mười đã được thử lửa, là chất vàng mười của tâm hồn Tây Bắc”.– Qua Người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân với lòng tự hào của mình đã khắc họa những nét thơ mộng, hùng vĩ nhưng khắc nghiệt của thiên nhiên đất nước qua hình ảnh con sông Đà hung bạo và trữ tình. Đồng thời, nhà văn cũng phát hiện và ca ngợi chất nghệ sĩ, sự tài ba trí dũng của con người lao động mới chất vàng mười của đất nước trong xây dựng Chủ nghĩa xã hội qua hình ảnh người lái đò sông Đà. Từ đó nhà văn ca ngợi sông Đà, núi rừng Tây Bắc vừa hùng vĩ vừa thơ mộng, đồng bào Tây Bắc cần cù, dũng cảm, rất tài tử, tài Lí do Nguyễn Tuân chọn sông Đà làm đối tượng miêu tả– Sông Đà là con sông có nét riêng độc đáo mà các sông khác không cóChúng thuỷ giai đông tẩuĐà giang độc bắc lưu.Mọi dòng sông đều chảy về hướng ĐôngChỉ có sông Đà chảy theo hướng Bắc.– Và để làm nổi bật các ngôn từ nóng bỏng sự sống trong văn Nguyễn Tuân, để rồi khai sinh dòng sông nghệ thuật của mình bằng một cái tên đầy đủ với sự đối chọi giữa hai tính cách “hung bạo và trữ tình” của sông sông độc lạ thích hợp với ngòi bút độc Đọc – hiểu Hình tượng con sông Vẻ hung bạo, dữ dộiCảnh đá bờ sông “dựng vách thành”– Hình ảnh “vách thành” đã phần nào thể hiện sự vững chãi thâm nghiêm và những sức mạnh bí ẩn đầy đe dọa của vách núi như thành cao, vực thẳm, như hào sâu.– Tác giả đã dùng những chi tiết tưởng như bâng quơ, ngẫu nhiên nhưng lại có giá trị gợi tả gián tiếp độ hẹp của dòng sông, độ cao của vách đá, như mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời. Đến việc đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách.– Cách so sánh vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu – động từ “chẹt” và hình ảnh so sánh với cái “yết hầu” đã đem đến ấn tượng mãnh liệt cho người đọc về độ hẹp của lòng sông khi bị vách đá chèn ép tới nghẹt thở.– Miêu tả thế giới sự vật thông qua cảm giác rất quen thuộc của Nguyễn Tuân đã được thể hiện độc đáo khi nhà văn tạo ra ấn tượng tương phản của xúc giác với chi tiết ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, tạo ra ấn tượng của thị giác khi lấy hè phố để miêu tả mặt sông, lấy nhà cao gợi tả vách đá, truyền cho người đọc những hình dung về cái tăm tối lạnh lẽo đột ngột khi con thuyền đi từ ngoài vào khúc sông có đá hun hút dựng vách thành qua hình ảnh so sánh về một khung cửa sổ nào trên cái tầng thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện. Mặt “ghềnh Hát Loóng”– Lại như quãng mặt ghềnh Hát Loóng, dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm… Câu văn miêu tả có nhịp ngắn, nhanh, dồn dập kết hợp với các thanh sắc, những từ ngữ điệp nối tiếp thế chỗ nhau trong các cụm từ ngữ đã tái hiện sinh động quần thể những sức mạnh thiên nhiên dữ dội nhất của nước, sóng, gió, và đá sông Đà, trong đó cuồn cuộn những con sóng dữ vút lên, chồm lên nhau, trùng điệp ghê rợn trên mặt láy “gùn ghè” và hình ảnh so sánh mang đậm sắc thái nhân hóa về việc sóng gió trên mặt ghềnh Hát Loóng lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò sông Đà nào tóm được qua đấy đã thể hiện sinh động sự hung hãn lì lợm và cuồng bạo của dòng sông. Những “cái hút nước” trên sông Đà– Một loạt những so sánh sống động, đặc sắc khiến hút nước thiện ra trong hình ảnh như một cái giếng bê tông xoáy tít, trong âm thanh của một cửa cống cái bị sặc, trong cả hình ảnh và âm thanh như mặt nước bị rót dầu sôi.– Từ láy tượng hình “lừ lừ”, từ láy tượng thanh tăng nghĩa “ặc ặc” cùng những chi tiết so sánh mang sắc thái nhân hóa khi miêu tả nước thở và kêu như cửa cống cái bị sặc, tất cả góp phần làm hiện ra cả hình ảnh và âm thanh của hút nước như một quái vật đang giận dữ tới ghê người.– Hình ảnh liên tưởng đến quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực đã giúp người đọc dễ dàng hình dung ra cảm giác hãi hùng nếu phải đi thuyền men gần hút nước đáng sợ. Nhà văn còn phát huy trí tưởng tượng phong phú khi hình dung ra những bè gỗ to lớn nghênh ngang bị “lôi tuột xuống” đáy hút nước, hay chiếc thuyền bị hút trồng cây chuối ngược rồi vụt biến đi… tan xác ở khuỷnh sông dưới.– Không dừng lại trong những hình dung tưởng tượng về cái bè gỗ hay một con thuyền bất hạnh nào đó phải làm mồi cho hút nước, Nguyễn Tuân còn tạo ra một giả tưởng li kì dẫn dụ người đọc vào trò chơi cảm giác, kéo họ xuống tận đáy hút nước xoáy tít, sâu hoắm cùng một anh bạn quay phim táo tợn. Hút nước vì thế đã được miêu tả bằng thủ pháp điện ảnh, hất ngược từ dưới lên một cách sống động, truyền cảm từ hình khối của một thành giếng xây toàn bằng nước cho đến màu sắc của dòng sông “nước xanh ve”, và thậm chí cho đến cả cảm giác sợ hãi rất chân thực của con người khi phải đứng trong lòng một khối pha lê xanh như sắp vỡ tan, bất cứ lúc nào cũng như sắp đổ ụp vào người. Thác đá sông Đà– Thác đá khi ở xa+ Khi còn xa mới tới thác, Nguyễn Tuân đã miêu tả âm thanh của tiếng nước thác bằng những từ ngữ chỉ cảm xúc, thái độ, tâm trạng của con người khi “oán trách”, “van xin”, khi khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo, khi “rống lên”. Nghệ thuật nhân hóa đã khiến thác nước sông Đà thực sự trở thành một sinh thể sống đang giận dữ, gầm gào, đe dọa con người ngay cả khi nó chưa xuất hiện.+ Sự tài hoa tinh tế của Nguyễn Tuân còn thể hiện qua cách nhà văn dùng hệ thống những từ ngữ miêu tả âm thanh theo những cung bậc tăng dần cả về sắc thái cảm xúc và âm lượng để vừa miêu tả sống động sự đe dọa hung bạo của dòng sông, vừa miêu tả khoảng cách ngắn dần của người quan sát của thác đá sông Đà – và có lẽ đây cũng là cách làm tăng dần cảm giác hãi hùng, hồi hộp, kì thú.+ Những phép so sánh kì thú trong một câu văn dài đầy ắp những hình ảnh dữ dội với hàng ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng nhà văn đã thể hiện sự tài hoa độc đáo khi lấy hình ảnh gợi tả âm thanh, lấy lửa tả nước, lấy rừng tả sông, đặt những hình ảnh tương phản trong một trường liên tưởng bất ngờ, thú vị. Cách miêu tả ấy khiến âm thanh của thác đá không chỉ được cảm nhận bằng thính giác, không chỉ được hình dung qua trí tưởng tượng mà còn hiện ra trong những ấn tuợng đặc biệt sống động của thính giác, thị giác.– Thác đá khi ở gần+ Khi thác đá hiện ra, sau câu văn ngắn như một tiếng reo ngỡ ngàng, thích thú Tới cái thác rồi, nhà văn đã đồng thời tả cả đá và nước thác với sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời đá. Tính từ “trắng xóa” lặp lại nhiều lần gây ấn tượng về sóng, về gió, về bọt nước trào sôi dữ dội, lại gợi tả làn hơi nước như mờ đi trên một diện rộng mênh mông của mặt sông; cùng với hình ảnh “chân trời đá”, câu văn miêu tả của Nguyễn Tuân đã làm hiện ra sự hùng vĩ tới choáng ngợp của thác đá sông Đà.+ Đá sông Đà cùng với nước với sóng với gió sông Đà được miêu tả qua một hình ảnh nhân hóa đặc sắc Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông… mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện… là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền. Sử dụng thuật ngữ của quân sự, Nguyễn Tuân đã gợi dậy cái sự bí ẩn và hiểm ác của đá sông Đà trong sự vĩnh hằng của thiên nhiên khi ngàn năm mai phục, khi dữ dằn, đột ngột hiện ra sau cái dập dềnh của sóng để nhổm cả dậy vồ lấy thuyền.+ Một loạt những thuật ngữ của quân sự, võ thuật, thể thao như “thạch trận”, “cuộc giáp lá cà”, “hàng tiền vệ”, “boong-ke”, “pháo đài”… một hệ thống dày đặc những động từ mang sắc thái nhân hóa, đặt trong những câu văn ngắn, dồn dập mặt sông rung tít như thác nước reo hò… hò la… ùa vào… bẻ gãy… thúc gối… đội thuyền… đánh miếng đòn độc hiểm… tóm lấy thuyền… khuýp quật vu hồi… khiến thác đá sông Đà thực sự trở thành một chiến trường với những trận “hỗn chiến” ác liệt giữa con người với thiên nhiên. Sự ác liệt còn được tô đậm thêm bởi những âm thanh mãnh liệt của một trận nước vang trời thanh la não bạt… Có lúc thác đá được động vật hóa để làm tăng thêm sự hung hãn hoang dại trong hình ảnh dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá. Thậm chí, sự hiểm ác và sức mạnh ghê gớm phi phàm của thác đá sông Đà còn được nhà văn đẩy lên đến mức độ thần linh trong hình ảnh ẩn dụ về binh pháp của thần sông, thần đá.+ Tùy theo hình dạng, kích thước của đá và cách nhìn của nhà văn mà đá sông Đà được miêu tả trong những cảm nhận khác nhau, khi thì “ngỗ ngược”, “nhăn nhúm méo mó” bởi sự gồ ghề, lúc to lớn qua dáng “bệ vệ oai phong lẫm liệt”, khi này là tảng đá với những cạnh sắc nhọn hất ngược lên đem đến cảm nhận về sự “xấc xược” trong cái “hất hàm” thách thức, lúc khác lại là tảng đá nhẵn xanh xuôi chảy từ trên xuống qua hình ảnh thằng đá tướng… tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng… Thác đá sông Đà còn vô cùng xảo quyệt khi dụ chiếc thuyền của đối phương, khi dàn sẵn trận địa và nhất là khi bày thạch trận mai phục và tấn công con người Vòng đầu, mở ra năm cửa… cửa sinh nằm lập lờ ở phía tả ngạn; vòng thứ hai tăng thêm nhiều cửa tử… cửa sinh lại bố trí lệch qua phía hữu ngạn; vòng thứ ba bên phải, bên trái đều là luồng chết… luồng sống lại ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác…Þ Nghệ thuật nhân hóa cùng những từ láy gợi hình đầy sức biểu cảm và nhân hóa là những tính từ chỉ tính cách, thái độ, cảm xúc đã giúp Nguyễn Tuân làm hiện lên một trong những phần khủng khiếp nhất của sông Đà, đó là thác đá trên dòng sông. Kết hợp với sóng, gió và nước thác, đá sông Đà không im lìm như đặc tính vốn có tự ngàn năm mà sống động, dữ dằn, thét gào, ác hiểm khiến đá sông Đà không chỉ lộ “diện mạo” mà cả “tâm địa” của thứ kẻ thù số một của con Vẻ thơ mộng, trữ tìnhCảm hứng lãng mạn luôn có xu hướng tạo ra những ấn tuợng mạnh mẽ bởi sự tương phản – trong tùy bút Người lái đò sông Đà, sự tương phản đã hiện hữu ngay trong đối tượng miêu tả, bởi làm nên dòng sông Đà thực sự, ngoài chất hung bạo, không thể không nhắc đến chất thi vị trữ tình đằm thắm. Vẫn là dòng sông ấy, nhưng sau khi dòng sông vặn mình vào một cái bến cát, khi những bọt nước cuối cùng của sóng gió thượng nguồn xèo xèo tan trong trí nhớ, ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân đã dẫn người đọc đến một sông Đà êm đềm như một giấc mơ, dịu hiền như một miền cổ tích.– Hình ảnh sông Đà tuôn dài+ Làm nên nét trữ tình đầu tiên là hình ảnh con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân. Chính nhịp câu, lời văn và nghĩa chữ đã góp phần gợi tả những nét thi vị thật đặc biệt của dòng sông. Câu văn rất dài chỉ có một dấu ngắt duy nhất vừa như mô phỏng sự “tuôn dài” của dòng sông, vừa đem đến cảm giác về sự liền mạch bất tận, gợi hình ảnh dòng sông uốn lượn tuôn chảy từ những dãy núi hùng vĩ của biên giới Tây Bắc, miên man chảy xuống đồng bằng, lặng lẽ hòa vào sông Hồng rồi tha thiết đổ ra biển… Những thanh bằng liên tiếp ở đầu câu văn cũng làm tăng thêm sự yên ả, êm đềm, bình lặng cho dòng sông.+ Cách so sánh dòng sông như một áng tóc trữ tình đã đem đến cho sông Đà nét mềm mại đằm thắm, vẻ duyên dáng đầy nữ tính, và cũng không hề làm mất đi sự hùng vĩ của dòng sông. Trong câu văn miêu tả rất tài hoa của Nguyễn Tuân có thể thấy sông Đà đã nhận thêm vào dòng chảy của mình nét thơ mộng huyền ảo của mây trời, sự tươi tắn rực rỡ của hoa ban hoa gạo tháng hai, và đặc biệt là cái ấm áp thật gần gũi thân yêu của làn khói núi Mèo đốt nương Cách miêu tả của Nguyễn Tuân dẫn tới sự khẳng định vẻ đẹp của sông Đà làm say mê trái tim người nghệ sĩ trước hết vì nó là vẻ đẹp của “đất nước Tổ quốc bao la”, sau nữa là vì nó gắn bó gần gũi thân thiết với cuộc sống con người. Nhà văn của những vẻ đẹp “vang bóng một thời” nay đã có sự thay đổi cơ bản trong quan điểm thẩm mĩ Cái đẹp không còn cô đơn lạc lõng xa xôi, cái đẹp hiện ra ấm áp giữa cuộc đời bình dị, cái đẹp hiện diện ngay trong cuộc sống đời thường.– Màu sắc của sông Đà+ Vẻ đẹp thơ mộng trữ tình của sông Đà còn được hiện ra qua sắc màu đầy biến ảo khi vì niềm say mê, Nguyễn Tuân đã quan sát dòng sông một cách công phu và tinh tế. Màu sắc của dòng sông được miêu tả trong những thời điểm khác nhau với những sắc thái khác nhau, khi là dòng xanh ngọc bích trong sáng, quý giá, êm nhẹ của mùa xuân, khi lừ lừ chín đỏ vào mùa thu – những từ ngữ tượng hình đã gợi tả dòng êm đềm, điềm đạm và chậm rãi của con sông chở nặng phù sa thượng nguồn.+ Hình ảnh so sánh nước sông Đà mùa thu như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về đã không chỉ làm hiện lên màu sắc rất đặc trưng của sông Đà trong mùa thu mà còn thể hiện sức mạnh tiềm tàng ẩn chứa đầy đe dọa của một dòng sông vẫn năm năm báo oán đời đời đánh ghen với con Vậy là ngay cả khi dừng lại miêu tả nét thơ mộng trữ tình của dòng sông, hình ảnh về một sông Đà hung bạo hình như vẫn ám ảnh đâu đây trong sự quan sát và cảm nhận của một nhà văn luôn say mê những cảm giác mạnh.– Con sông Đà gợi cảm+ Trong niềm yêu nhớ của Nguyễn Tuân, sông Đà “gợi cảm” như một “cố nhân”. Hai chữ “cố nhân” vừa là hình ảnh nhân hóa dòng sông như một người bạn cũ xa nhớ gần yêu, vừa đưa đến cho dòng sông chút vương vấn, cổ kính, xưa cũ của Đường thi.+ Đoạn văn sau đó tràn ngập những cấu trúc so sánh đặc sắc để miêu tả dòng sông Đà gợi cảm và trước hết là để bộc lộ cảm xúc của con người khi sắp gặp lại dòng sông. Nhìn dòng sông thấy loang loáng như trẻ con chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy là cái nhìn của một người chưa ra tới cửa rừng, mới chỉ nhìn thấy dòng sông lấp lóa nắng thấp thoáng ẩn hiện giữa những vạt cây mà đã háo hức, bồn chồn, đã vội vàng, khao khát…+ Khi liên tưởng mặt sông giống như cái miếng sáng lóe lên một màu nắng tháng ba Đường thi, Nguyễn Tuân đã đem đến cho sông Đà vẻ lãng mạn của hoa khói, sự trong sáng rực rỡ của sắc xuân, tỏa ra từ câu thơ vời vợi nhớ nhung được coi là “thiên cổ lệ cú” của Lí Bạch Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu. Liên tưởng của nhà văn đã làm xao xuyến những tâm hồn chưa hề nguôi nỗi tiếc nuối nhớ nhung với những phong vị Đường thi cổ điển, để rồi nỗi xao xuyến ấy mơ hồ lan tỏa trên dòng sông gợi cảm, khiến sông Đà không chỉ chảy trong không gian, mà như còn tha thiết trong dòng thời gian miên viễn xa xăm của Đường thi.+ Sau đó là một câu văn chỉ nối tiếp các chủ ngữ Bờ sông Đà, bãi sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên sông Đà. Hai chữ “sông Đà” điệp lại cuối mỗi vế câu đẳng lập như nhịp lên niềm say mê phấn khích, như nhân lên những khoảng không gian phóng khoáng của bến bãi Đà giang, tạo cảm giác như nhà văn đang hân hoan ngợp giữa không gian sông Đà mênh mông để rồi say đắm òa vào những không gian ấy, không kịp bình tĩnh quan sát bằng lí trí, để miêu tả bằng những vị ngữ cụ thể, tất cả đều bị cuốn đi, dồn dập, gấp gáp theo nỗi khát khao.+ Cảm xúc gặp lại sông Đà được cụ thể hóa trong những so sánh bất ngờ thú vị Chao ôi, trông con sông vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng. Nắng tuy hữu hình nhưng lại là vô thể, chỉ có thể nhìn mà không thể nắm bắt, “giòn tan” là chính từ thường chỉ đặc điểm sắc thái của những vật thể mỏng manh dễ vỡ. Nắng “giòn tan” là một ẩn dụ đẹp gợi tả cái nắng thật trong, thật sáng, thật mỏng và thật nhẹ; nó vừa mong manh, vừa quý giá, nó tương phản hoàn toàn với cái u ám trĩu nặng của bầu trời những ngày “mưa dầm”, giúp người đọc dễ dàng hình dung cảm giác trìu mến, nâng niu của nhà văn khi gặp lại con sông. Và sự nối lại giấc mơ càng hi hữu hiếm quý bao nhiêu, càng đem lại cảm giác sung sướng, thú vị bấy nhiêu. Nhà văn của những khát khao đã nhiều lần tới sông Đà và bất cứ lúc nào nếu muốn, ông cũng có thể đến với người cố nhân của mình, vậy mà qua so sánh vui như nối lại chiêm bao đứt quãng có thể thấy cảm giác khi gặp lại dòng sông lần nào cũng tươi mới kì diệu như được nối lại một giấc mơ đẹp, lần nào cũng như được tận hưởng niềm vui chưa từng có trong đời, lần nào cũng như lần đầu tiên, cuối cùng và duy nhất.+ Và cuối cùng, trong hình ảnh so sánh về cảm giác gặp lại sông Đà, nó đằm đằm ấm ấm như gặp lại cố nhân, sông Đà đã thực sự trở thành người bạn cũ, một tri âm với bao kỉ niệm gắn bó trong quá khứ, bao nhớ thương trong hiện tại, bao chung thủy trong tương lai, đến một cố nhân trái tính mà vẫn có sức hấp dẫn đến lạ kì.– Sắc thái lặng tờ hoang dại+ Mở đầu đoạn là một câu văn êm ru trong những thanh bằng Thuyền tôi trôi trên sông Đà… Câu văn đã đưa con thuyền, nhà văn và người đọc vào một cõi mơ êm đềm, yên ả, một cõi hoang sơ vắng lặng như chưa hề có dấu vết của con người. Tính từ “lặng tờ” lặp lại tới hai lần, cùng câu văn mang ý nghĩa khẳng định Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi khiến cho sự “lặng tờ” của con sông Đà dày thêm, không chỉ vì cái yên ả trong không gian mà còn vì cái thăm thẳm của thời gian.+ Bờ sông tiếp tục được miêu tả trong những hình ảnh so sánh độc đáo Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa. Cách so sánh của Nguyễn Tuân đã không hề làm rõ, làm hiện hữu hình ảnh của bờ sông, cũng không làm cụ thể hóa những khái niệm trừu tượng mà thậm chí chỉ càng làm dòng sông trôi xa thêm vào miền mộng mơ, tiêu điều của cõi hồng hoang xa xôi, trong thế giới cổ tích huyền hoặc của tuổi thơ và trong chính thế giới ấy, người đọc đã nhận ra rõ hơn sự lặng tờ hoang dại của một dòng sông trong trẻo êm đềm.+ Sự yên ả êm đềm tới mức mơ hồ của sông Đà khúc hạ nguồn tiếp tục được nhà văn tô đậm hơn bởi những hình ảnh thật nhỏ bé mong manh trong không gian trong lành, nguyên sơ, thuần khiết với mấy lá ngô non đầu mùa mới nhú, mấy búp cỏ gianh đẫm sương đêm và nhất là được gợi tả giữa âm thanh dịu nhẹ của tiếng đàn cá dầm xanh quẫy nước.+ Đặc biệt nhất là hình ảnh con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương, cất tiếng hỏi nhà văn bằng cái tiếng nói riêng của con vật lành… Chi tiết này làm tăng thêm ảo giác như nhà văn đang lạc vào một cõi trong trẻo, an lành, không có thực của thế giới cổ tích. Ảo giác mãnh liệt tới mức nhà văn bỗng thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp lê của một chuyến xe lửa, để âm thanh của cuộc sống hiện tại giúp nhà văn nhận ra rằng mình vẫn đang ở thế giới hiện thực, là con người trong nền văn minh hiện đại. Có lẽ không một sự miêu tả trực tiếp nào lại khiến sự lặng tờ hoang dại của dòng sông hiện lên rõ nét đến thế như trong lời ao ước của Nguyễn Tuân khi đứng bên một dòng sông quá đỗi êm đềm.– Trong đoạn văn miêu tả dòng sông trữ tình, cái “tôi” trữ tình của nhà văn đã trực tiếp xuất hiện qua những lời kể hào hứng Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân… tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu…; trong những lời cảm thán nồng nàn Chao ôi, trông con sông vui như… Chao ôi, thấy thèm được… Vậy là, bên cạnh một Nguyễn Tuân sắc sảo, tài hoa và uyên bác còn có một Nguyễn Tuân đam mê dạt dào cảm xúc, khi xao xuyến nỗi nhớ nhung như tình nhân, như cố nhân…; khi bồng bột như trẻ nhỏ trước mênh mông phóng khoáng của bờ sông Đà, bãi sông Đà, khi lại say sưa như muốn tan hòa vào thế giới bát ngát của dòng sông và nhất là luôn lai láng niềm mong ước được đề thơ vào sông việc phối hợp linh hoạt các thủ pháp nghệ thuật ẩn dụ, so sánh, nhân hóa, với việc sử dụng lối hành văn đầy biến hóa độc đáo và giàu sức gợi tả, với việc vận dụng tri thức tổng hợp của những loại hình nghệ thuật khác nhau, Nguyễn Tuân đã miêu tả, bộc lộ cảm xúc và xây dựng thành công hình tượng dòng sông Đà trong hai sắc thái hung bạo và trữ tình. Nguyễn Tuân đã thể hiện rõ nét phong cách nghệ thuật của mình trong những trang viết tài hoa uyên bác của mình khi miêu tả dòng Hình tượng người lái đò trên sông 1945, Nguyễn Tuân thường say mê miêu tả vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ trong những con người đặc tuyển, xuất chúng, vì thế, cái đẹp và người tài thường cô đơn, lạc lõng giữa cuộc đời, và trong hoàn cảnh xã hội thực dân nửa phong kiến ở Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX, đó là những vẻ đẹp vang bóng một thời thường đem đến sự ngưỡng mộ ngậm ngùi, nuối tiếc. Sau 1945, quan niệm thẩm mĩ của nhà văn đã có những thay đổi cơ bản. Vẫn nhìn con người từ phương diện tài hoa nghệ sĩ nhưng bây giờ, Nguyễn Tuân cho rằng bất cứ người lao động nào khi đạt tới trình độ điêu luyện giỏi giang trong công việc của mình đều có thể coi là nghệ sĩ và xứng đáng được tôn vinh ở vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ. Trong những sáng tác sau năm 1945, Nguyễn Tuân đã khám phá vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ của những con người lao động bình thường trong cuộc sống đời thường, qua đó mà bộc lộ tấm lòng trân trọng, yêu mến đối với họ. Người lái đò sông Đà trong tùy bút cùng tên cũng là một nhân vật được nhà văn khám phá và thể hiện không chỉ ở vẻ đẹp tài hoa mà còn trí dũng.* Bối cảnh cho ông đò xuất hiệnNgay khi miêu tả dòng sông Đà hung bạo khúc thượng nguồn, Nguyễn Tuân đã có ý thức tạo dựng một nền thiên nhiên dữ dội kì vĩ, một không gian hào tráng, lớn lao xứng đáng với sự xuất hiện của người anh hùng sông nước. Đó là một không gian của thác ghềnh hiểm trở, của sóng gió cuồn cuộn thét gào với hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió… một không gian của những hút nước ghê rợn, những thác đá dữ dằn, hiểm ác, của đá dựng vách thành bí ẩn thâm nghiêm.* Lai lịch và ngoại hình người lái đòÔng lái đò Lai Châu bạn tôi, quê ông ở ngay ngã tư sông, năm nay đã bảy mươi tuổi, làm nghề đò dọc mười năm liền và đã nghỉ làm nghề đôi chục năm. Nhưng mười năm người lái đò đã in dấu ấn khá đậm ở ngoại hình ông lão Tay ông lêu nghêu như cái sào. Chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh, gò lại như kẹp lấy một cuống lái tưởng tượng, giọng ông ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh sông, nhỡn giới ông vòi vọi như lúc nào cũng mong một cái bến xa nào đó trong sương mù. Những dòng này được nhà văn viết ra không chỉ để giới thiệu ngoại hình một con người mà còn để ca ngợi sự gắn bó, yêu quý nghề ở chính người đó. Nguyễn Tuân là nhà văn luôn nén câu văn của mình nhiều điều muốn nói, “hàm lượng thông tin” ở đó không bao giờ chỉ ở một tầng hiển ngôn.* Vẻ đẹp tài hoa trí dũng của con ngườiVà để khắc họa vẻ đẹp trí dũng tài hoa của ông đò, Nguyễn Tuân đã miêu tả một cuộc vượt thác nguy hiểm và ngoạn mục trong đó nổi bật sự tương phản giữa một thiên nhiên ác hiểm, hung bạo với con người trí dũng ngoan cường, đó cũng là trận thủy chiến dữ dội giữa một bên là những trùng vi thạch trận của đá thác, nước thác cùng sóng gió với một bên là chiến thuyền then đuôi én mỏng manh và những người lái đò nhỏ bé, đơn độc. Đối thủ ghê gớm của ông đò trong cuộc vượt thác là cả một đoàn quân đá hung bạo, dữ dằn. Những thuật ngữ của quân sự, võ thuật, thể thao như dàn sẵn trận địa… dụ thuyền đối phương… đánh khuýp quật vu hồi… đã nhân cách hóa dòng sông khiến cho thiên nhiên sông Đà với sóng dữ, thác dữ, đá dữ trở nên hung hãn, hiểm ác như một thứ kẻ thù số một của con người. Tác giả còn sử dụng một loạt các từ láy miêu tả diện mạo gớm ghiếc của đám đá sông Đà khi thì ngỗ ngược, nhăm nhúm, méo mó, xấc xược thách thức, khi tiu nghỉu cái mặt xanh… một loạt những động từ đặt trong các nhịp câu ngắt ngắn, nhanh, dồn dập nước thác reo hò… hò la… ùa vào… bẻ gẫy… đá trái… thúc gối… đội thuyền… bám lấy thuyền… rồi sử dụng cấu trúc điệp để tả nước xô đá, đá xô sóng… hay sóng đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm… Tất cả đã làm hiện lên sự hung bạo vô cùng của sông Đà khi cùng một lúc các sức mạnh thiên nhiên kết hợp với nhau tấn công những con thuyền đơn độc và con người nhỏ bé. Thiên nhiên sông Đà còn vô cùng xảo quyệt trong việc dàn trận tấn công con người. Để đưa con thuyền vượt thác sông Đà khúc thượng nguồn, những người lái đò phải đối đầu với cả một trùng vi thạch trận trên dòng dông, trong đó, vòng đầu, mở ra năm cửa… cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn… vòng hai tăng thêm nhiều cửa tử… cửa sinh lại bố trí lệch qua phía hữu ngạn… vòng thứ ba bên phải, bên trái đều là luồng chết… luồng sống… lại ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác…Þ Sự dữ dằn, hung bạo và hiểm ác của thiên nhiên sông Đà chính là những tình huống đầy thử thách để nhân vật bộc lộ vẻ đẹp trí dũng tài hoa của mình khi người lái đò luôn phải tỉnh táo, khôn ngoan, khéo léo, càng phải ngoan cường, dũng cảm mới có thể đưa con thuyền an toàn vượt qua những trùng vi thạch trận trên dòng sông.* Vẻ đẹp trí dũng tài hoa của ông đò trong trận thủy chiến với sóng thác sông Đà– Ở vòng vây thứ nhất của thạch trận, khi sóng thác đánh miếng đòn độc hiểm nhất, ông đò mặt “méo bệch” đi – cách sử dụng từ độc đáo đã giúp nhà văn làm hiện ra không chỉ là gương mặt biến dạng, trắng bệch vì đau đớn mà còn nhợt nhạt vì phải dầm lâu trong nước lạnh. Sự đau đớn của ông đò còn được gián tiếp miêu tả trong một cảm nhận của thị giác và xúc giác mặt sông trong tích tắc lòa sáng như một cửa bể đom đóm rừng ùa xuống mà châm lửa vào đầu sóng – đây vẫn là cách miêu tả thông qua cảm giác quen thuộc của Nguyễn Tuân – vết thương đau đớn của ông đò đã dược thể hiện bởi cảm giác toé đom đóm và rát bỏng như lửa cháy. Trong trận hỗn chiến gian lao khi tương quan lực lượng quá chênh lệch với sóng thác sông Đà, ông đò đã dũng cảm, cố nén vết thương đau đớn, ngoan cường khéo léo đưa con thuyền vượt vòng vây thứ nhất của thạch trận trên sông Qua cách miêu tả tiếng hô chỉ huy ngắn gọn, tỉnh táo của người cầm lái, Nguyễn Tuân đã không giấu được lòng ngưỡng mộ và cảm phục trước bản lĩnh kiên cường, sự dũng mãnh, bình thản của người lái đò.– Tới vòng vây thứ hai của thạch trận, ông đò không chỉ dũng mãnh, kiên cường mà còn thể hiện sự thông minh của một người lái đò dày dặn kinh nghiệm – người nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá, người đã “thuộc quy luật” của dòng sông, thác đá… Ông được miêu tả như một dũng tướng tài ba đang điều khiển, thuần phục con ngựa bất kham của sóng thác sông Đà khi nắm chắc bờm sóng… ghì cương… phóng nhanh vào cửa sinh; kinh nghiệm dày dặn và trí nhớ siêu phàm của ông đò được thể hiện trong chi tiết ông nhớ mặt từng đứa trong bốn năm bọn thủy quân cửa ải nước để có cách ứng phó phù hợp. Những động tác linh hoạt, uyển chuyển điêu luyện của ông đò khi lái miết một đường chéo, khi tránh mà rảo bơi chèo, khi đè sấn lên mà chặt đôi… cho thấy những biện pháp kì diệu của một tay lái ra hoa – trí tuệ và tài hoa con người thậm chí đã chiến thắng cả thần sông, thần đá.– Ở vòng vây cuối, sự hiểm ác của thác đá đã được nhà văn miêu tả trong hình ảnh ẩn dụ tài hoa về cổng đá cánh mở cánh khép – đó là cả một mặt trận đá trùng điệp trong đó bức tường phòng ngự vững chắc của lũ đá hậu vệ kết hợp với những mũi tấn công ào ạt, tới tấp không ngưng nghỉ của sóng dữ. Nhiệm vụ của ông đò là phải phóng thẳng thuyền, chọc thủng một luồng sinh duy nhất ở ngay giữa cửa bọn đá hậu vệ trấn giữ, trong khoảnh khắc cánh “cổng đá” mở giữa những đợt sóng thác dữ dội. Hình ảnh con thuyền lao vút qua khe hẹp được miêu tả trong những câu văn ngắn mà bản thân cách ngắt câu, sự kết hợp những động từ và danh từ nối tiếp vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng… đã thể hiện sự điêu luyện khéo léo và sức mạnh của ông đò. Tốc độ phi thường của con thuyền dưới bàn tay vừa lái, vừa xuyên, vừa lượn của ông đò không chỉ thể hiện qua những động từ giàu sắc thái gợi hình và biểu cảm “vút… vút”… qua hình ảnh so sánh về một mũi tên tre mà còn được gợi tả tinh tế qua làn hơi nước mà con thuyền xuyên qua – bởi với cách so sánh về một mũi tên tre xuyên qua hơi nước, con thuyền không còn lướt trên mặt nước mà đã thực sự bay trong làn hơi nước trên mặt năng của ông đò khi ấy đã bao hàm cả trí tuệ, sự trải nghiệm, sức mạnh thể lực, trình độ điêu luyện và bản lĩnh kiên cường – tất cả đều đạt tới mức phi phàm, kì diệu.– Những người anh hùng trong cuộc sống đời thường bình dịGiỏi giang, khéo léo, dũng cảm và mạnh mẽ, ông đò đã thể hiện rõ nét vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ và trí dũng phi thường khi cùng thuyền vượt qua ghềnh thác, khi bao giờ cũng giữ thế chủ động để tìm cho mình một cửa sinh duy nhất giữa bát ngát trận đồ cửa tử của những trùng vi thạch trận hiểm ác, dữ dằn; khi không bao giờ cho phép mình chùn bước, sợ hãi hay sai lầm dẫu chỉ trong khoảnh khắc; khi luôn có thể trình diễn nghệ thuật lái đò điêu luyện của một tay lái ra hoa. Sau khi chiến thắng thiên nhiên hung bạo, người lái đò lại đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam và toàn bàn tán về cá anh vũ, cá dầm xanh… chả thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi cửa ải nước đủ tướng dữ quân độ bình thản ấy càng làm đậm thêm tầm vóc lớn lao của những người anh hùng trong cuộc sống đời thường bịn dịn khi họ coi việc chiến đấu và chiến thắng sông Đà dữ dội, hiểm ác, việc giành sự sống từ những cửa tử của ghềnh thác sông Đà chỉ là chuyện thường ngày. III. Tổng kết.– Người lái đò sông Đà là một áng văn đẹp thể hiện những nét đặc sắc nhất trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân, một nhà văn tài hoa uyên bác luôn quan sát, khám phá, diễn tả thế giới ở phương diện văn hóa, thẩm mĩ; miêu tả con người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ. Với việc thể hiện nhuần nhuyễn những nét phong cách ấy, tác phẩm đã thực sự thành công khi phát hiện và miêu tả chất vàng trong vẻ đẹp hùng vĩ và thơ mộng của thiên nhiên Tây Bắc cùng chất vàng mười quý giá trong tâm hồn, tính cách những người lao động bình dị miền Tây Bắc.– Tùy bút Người lái đò sông Đà đã trở thành một thiên anh hùng ca ca ngợi vẻ đẹp hào tráng của con người trong cuộc chiến đấu chinh phục thiên nhiên. Với quan niệm thẩm mĩ mới mẻ, tích cực của Nguyễn Tuân, người lái đò nơi thượng nguồn Tây Bắc thực sự là một nghệ sĩ tài hoa, một anh hùng sông nước khi hàng ngày phải chiến đấu và luôn phải chiến thắng thiên nhiên bằng trí tuệ, sự khéo léo, sức mạnh và lòng can đảm của mình. Giáo dụcTrắc nghiệm Thứ hai, 18/12/2017, 1904 GMT+7 Tùy bút Sông Đà là kết quả chuyến đi thực tế năm 1958 của nhà văn Nguyễn Tuân, gồm 15 tùy bút và một bài thơ phác thảo. Tuyển tập được xuất bản 1960, nội dung chủ yếu là ca ngợi cảnh vật và con người Tây Bắc. Tác phẩm nổi tiếng nhất trong tập tùy bút là Người lái đò sông Đà, thể hiện rõ dòng sông Tây Bắc ở hai phương diện đối lập nhau. Đó là một dòng sông dữ dội, hiểm trở, từng gây nhiều tai họa cho con người nhưng đồng thời cũng mang vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình. Sông Đà ở tỉnh Lai Châu. Ảnh Wikiwand. Trong tác phẩm này, Nguyễn Tuân có những miêu tả tinh tế về dòng sông Đà, khiến nó có sức sống như một nhân vật "Mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời", "Con hổ con nai có thể vọt qua sông, và chỉ can nhẹ tay thôi cũng có thể ném hòn đá từ bờ bên này qua bên kia vách". "Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một cái khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện". Trong khi đó, ông lái đò đã hiện lên như một con người tài hoa, trí dũng đã đánh bại được cái thác nước hung dữ, phá hết vòng vây này đến vòng vây khác, "cưỡi lên con thác", "nắm chặt lấy bờm sóng", "phóng nhanh", "lái xiết"... Ông như người nghệ sĩ thực thụ trong công việc lái đò trên sông Đà. Câu 7 Món ăn nào được Nguyễn Tuân miêu tả trong một bài ký rằng vào mùa nóng, ăn một bát thì "ra mồ hôi, gặp cơn gió nhẹ chạy qua mặt qua lưng, thấy như giời quạt cho mình", còn ăn vào mùa đông thì "đôi môi tái nhợt chợt thắm tươi lại"? a. Bánh cuốn b. Bún bò c. Phở Hướng dẫn Tác giả Nguyễn Tuân Nguyễn Tuân 1910 – 1987, quê ở Hà Nội, là một trong những nhà văn xuất sắc của nền văn học Việt Nam thế kỉ 20. Đến với văn chương từ những năm 20 của thế kỉ, Nguyễn Tuân đã thử bút qua nhiều thể loại thơ, bút ký, truyện ngắn hiện thực trào phúng và cố gắng tìm kiếm thành công. Nhưng mãi đến đầu năm 1938, ông mới nhận ra sở trường của mình và thành công xuất sắc với các tác phẩm Một chuyến đi, Vang bóng một thời, Thiếu quê hương, Chiếc lư đồng mắt cua… Trước Cách mạng Tháng Tám, Nguyễn Tuân Nổi tiếng với những tác phẩm viết về chủ đề “xê dịch” Một chuyến đi, Thiếu quê hương,..; cái đẹp trong quá khứ Vang bóng một thời,..; hoặc cuộc sống trụy lạc Chiếc lư đồng mắt cua. Dù ở đề tài nào, ông cũng khao khát tìm kiếm, phát hiện và chiêm ngưỡng cái đẹp ẩn khuất trong cuộc sống. Chủ nghĩa xê dịch vốn là một quan niệm sống của phương Tây, được du nhập vào Việt Nam khoảng đầu thế kỉ 20 và được nhiều người tiếp nhận. Xê dịch có nghĩa là luôn luôn thay đổi, rất phù hợp với lý tưởng sống của tuổi trẻ, hoặc những người có lối sống tự do, thích khám phá. Nguyễn Tuân đã tìm đến lý thuyết “chủ nghĩa xê dịch” này trong tâm trạng bất mãn và bất lực trước thời cuộc. Nhưng viết về “chủ nghĩa xê dịch”, Nguyễn Tuân lại có dịp bày tỏ tấm lòng gắn bó tha thiết của ông đối với cảnh sắc và phong vị của đất nước mà ông đã ghi lại được bằng một ngòi bút đầy trìu mến, yêu thương và tài hoa Một chuyến đi. Không những “xê dịch” trên khoảng không gian địa lí, Nguyễn Tuân còn thực hiện “xê dịch” vượt thời gian lịch sử. Không tin tưởng ở hiện tại và tương lai, Nguyễn Tuân đi tìm vẻ đẹp của quá khứ còn “vang bóng một thời”. Ông mô tả vẻ đẹp riêng của thời xưa với những phong tục đẹp, những thú tiêu dao hưởng lạc lành mạnh và tao nhã. Tất cả được thể hiện thông qua những con người thuộc lớp người nhà Nho tài hoa bất đắc chí, tuy đã thua cuộc nhưng không chịu làm lành với xã hội thực dân như Huấn Cao Chữ người tử tù. Nguyễn Tuân cũng hay viết về đề tài đời sống trụy lạc. Ở những tác phẩm này, người ta thường thấy có một nhân vật “tôi” hoang mang bế tắc. Trong tình trạng khủng hoảng tinh thần ấy, người ta thấy đôi khi vút lên từ cuộc đời nhem nhuốc, phàm tục niềm khao khát một thế giới tinh khiết, thanh cao Chiếc lư đồng mắt cua. Cũng như các nhà văn khác, thời kì này, Nguyễn Tuân chưa tìm thấy lý tưởng cách mạng và niềm tin hướng về tương lai. Ông đã rất nỗ lực vận động nhưng đành bất lực. Mỗi tác phẩm là một nỗi đau thương, quằn quại, bế tắc tột cùng, càng gắng gượng càng thấy mịt mù hơn. Ông chủ trương xê dịch là để thoát khỏi cái hiện thực tối tăm, tìm kiếm một nguồn sống mới mẻ an dưỡng tinh thần. Đôi khi ta thấy Nguyễn Tuân sa đà vào trụy lạc nhưng rồi ông sực tỉnh và thay đổi mình, tìm kiếm mình trong những giá trị thanh cao của tinh thần. Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, Nguyễn Tuân sớm hòa nhập với cuộc sống mới. Ông chân thành đem ngòi bút phục vụ cuộc chiến đấu của dân tộc, nhưng Nguyễn Tuân luôn luôn có ý thức phục vụ trên cương vị của một nhà văn, đồng thời vẫn muốn phát huy cá tính và phong cách độc đáo của mình. Ông đã đóng góp cho nền văn học mới nhiều trang viết sắc sảo và đầy nghệ thuật ca ngợi quê hương đất nước Tùy bút Sông Đà, ca ngợi nhân dân lao động trong chiến đấu và sản xuất Tùy bút kháng chiến, Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi. Có thể khẳng định Nguyễn Tuân là một nhà văn độc đáo, tài hoa và uyên bác. Ông luôn trân trọng những truyền thống văn hóa của dân tộc và có tình yêu thiết tha đối với thiên nhiên, đất nước và con người. Trong suốt thời gian hơn nửa thế kỉ cầm bút, Nguyễn Tuân đã xó nhiều thể loại văn học khác nhau. Nhưng sở trường hơn cả vẫn là tùy bút. Với thể văn này, ngòi bút Nguyễn Tuân như được tung hoành, phóng túng, và bộc lộ đầy đủ nhất những nét tài hoa, uyên bác, cũng như cái “ngông” của mình Thể hiện phong cách này, mỗi trang viết của Nguyễn Tuân đều muốn chứng tỏ tài hoa uyên bác. Và mọi sự vật được miêu tả dù chỉ là cái ăn cái uống, cũng được quan sát chủ yếu ở phương diện văn hoá, mĩ thuật. Quá trình chuyển đổi phong cách, đề tài sáng tác trước và sau cách mạng diễn ra mạnh mẽ. Ông không đối lập giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Văn Nguyễn Tuân thì bao giờ cũng vậy, vừa đĩnh đạc cổ kính, vừa trẻ trung hiện đại. Ông chủ động tiếp nhận chủ nghĩa xê dịch là để tìm kiếm những cảm xúc mới mẻ cho ngòi bút. Bởi thế, văn của ông lúc nào cũng có những cảnh tượng phi thường, những cảm xúc mãnh liệt, những phong cảnh tuyệt mĩ, của gió bão, núi cao, rừng thiêng, thác ghềnh dữ dội,… Dù đã thử bút trên nhiều thể loại nhưng Nguyễn Tuân vẫn có thế mạnh trong tùy bút rất phù hợp với phong cách tự do phóng túng của ông. Thiên nhiên trong tùy bút Nguyễn Tuân được miêu tả bằng một tình yêu trìu mến thiết tha và sự thấu hiểu sâu sắc, biểu lộ tinh tế và đọc đáo vẻ đẹp của sông núi, cỏ cây trên đất nước mình. Văn ông còn có giọng khinh bạc nhưng chủ yếu để ném nỗi giận dữ vào kẻ thù cướp nước với niềm căm hận tột cùng. Tùy bút Sông Đà Tập tùy bút Sông Đà gồm 15 bài tùy bút và một bài thơ phác thảo; trong đó, đặc sắc hơn cả là tùy bút “Người lái đò sông Đà”. Tập tùy này là kết quả chuyến đi thực tế lên Tây Bắc của Nguyễn Tuân những năm 1958 – 1960. Trở lại vùng đất đã từng gắn bó với ông những năm kháng chiến chống Pháp gian khổ, Nguyễn Tuân như được sống lại với những kỉ niệm thân thuộc và cảm xúc nghệ sĩ lại dâng trào trong tâm hồn ông. Cảnh vật và con người Tây Bắc đã có một sức hấp dẫn cuốn hút đặc biệt đối với Nguyễn Tuân. Ông say mê trước vẻ đẹp thơ mộng trữ tình và cả cái hoang sơ dữ dội của thiên nhiên Tây Bắc. Nhưng đề cập đến vẻ đẹp của lòng người, tình người. Trong tùy bút Người lái đò sông Đà. Nguyễn Tuân đã tự nhận mình là người “đi tìm thứ vàng của màu sắc sông núi Tây Bắc”. Nhất là thứ vàng mười mang sẵn trong tâm trí mỗi con người ngày nay đang nhiệt tình gắn bó với Tây Bắc thêm sáng sủa, tươi vui và thêm bền vững. Hình ảnh con sông Đà Sông Đà được miêu tả như một nhân vật có nguồn gốc, lai lịch rõ ràng khai sinh ở huyện Cảnh Đông, Vân Nam, Trung Quốc và xin nhập tịch vào Việt Nam với tên gọi Bả Biên Giang hoặc Ly Tiên, ngày nay gọi chung là Sông Đà. Sông Đà cũng được miêu tả có tính cách độc đáo vừa hung bạo, dữ dội, vừa rất thơ mộng, trữ tình. Tính cách hung bạo có địa hình hiểm trở ghê gớm hút nước sâu thẳm, ghềnh thác hiểm trở, vách núi vút cao đầy ghê rợn,.. sóng nước cuồn cuộn ngày đêm gầm thét, Sông Đà ẩn chứa trong mình những nguy hiểm tột cùng của đội quân hùng mạnh nước và đá. Tính cách trữ tình, thơ mộng, hiền hòa Nhìn từ trên cao, hình dáng con sông Đà giống như một dải lụa mềm mại vắt qua núi rừng, như mái tóc của người thiếu nữ mượt mà thả dài. Màu sắc sông Đà thay đổi theo mùa, lúc xanh như ngọc bích, lúc lại đỏ lừ như da mặt người bầm đi vì rượu, lúc trong vắt như nhìn thấy đáy. Cảnh sắc hai bên bờ hiền hòa, hoang sơ và tĩnh lặng như một bờ tiền sử, một nỗi niềm cổ tích xưa. Hình ảnh thiên nhiên sông Đà đi vào lòng người, khơi gợi mãnh liệt cảm xúc bâng khuân, xao xuyến như được gặp lại cố nhân, như đắm mnihf vào không khí thơ mộng, cổ kính của Đường thi, như bất chợt được gặp một người tình chưa quen biết. Tất cả gợi cho ta một cảm giác trác việt, hiếm ó trên đời. Nguyễn Tuân đã nhìn nhận sông Đà như một tuyệt tác của tự nhiên, một công trình nghệ thuật của tạo hóa. Ca ngợi vẻ đẹp con sông Đà thể hiện sâu sắc tình yêu mến của nhà văn đối với quê hương đất nước. Hình ảnh người lái đò trên Sông Đà Nếu thiên nhiên sông Đà được tô đậm đến mức phi thường thì hình ảnh người lái đò trên sông Đà cũng được miêu tả trong tư thế kì vĩ nhất. Ông lái đò người Lai Châu, quê ngã tư sông cát tỉnh, đã xuôi ngược sông Đà suốt mười năm liền. Giữa ông và dòng sông có một mối gắn kết đặc biệt sâu sắc, nó vừa là kẻ thù số một, sẵn sàng quật ngã, nhấn chìm vừa là người bạn hết sức thân thiết đối với ông. Những thương tích sau mỗi cuộc chiến đấu ác liệt còn in đậm trên cơ thể ông như những chứng tích oai hùng vừa đau thương lại vừa rất đáng tự hào. Ông lái đò là người rất am hiểu về dòng sông. Ông hiểu sông Đà như hiểu chính bản thân mình. Ông nắm chắc từng nguồn mạch, từng ngọn thác, từng khe đá,.. Ông nắm vững quy luật của dòng sông và luôn có phương án tốt nhất trong mỗi cuộc chiến với dòng sông này. Mỗi cuộc vượt thác đối với ông là một chuyến đi tràn đầy cảm hứng. Sự nguy hiểm đầy chết chóc của dòng sông trở thành niềm đam mê bất tận trong suốt cuộc đời ông. Ông muốn chiến đấu và chiến thắng con quái thú ấy nhiều lần, làm thỏa mãn khát vọng chinh phục. Bởi thế, trên nền sông nước Đà giang hùng vĩ ông lái đò hiên lên với tư thế của một dũng tướng tài năng và phong thái của một nghệ sĩ tài hoa trong cuộc vượt thác. Sau mỗi cuộc vượt thác ngoạn mục, ông lại thơi thả neo thuyền và ung dung đốt lửa trại, bàn tán về cá anh vũ. Qua nhân vật người lái đò trên sông Đà, Nguyễn Tuân đã khắc họa đậm nét bức chân dung của con người lao động với niềm hiên ngàng, khí phách, oai hùng, kì vĩ, vừa tài hoa vừa hiền lành, dung dị trong cuộc sống nơi miền núi thẳm. Theo NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ-Nguyễn Tuân-A. MỞ BÀI CHUNG- MB1 Pautopxki từng nói “Niềm vui của nhà văn chân chính là niềm vui củangười dẫn đường đến xứ sở cái đẹp”. Hơn ai hết, Nguyễn Tuân chính là nhà văn như là người theo chủ nghĩa duy mĩ với quan niệm cuộc đời là một cuộc hành trình đi tìmcái đẹp và “Suốt đời tôn thờ và phụng sự cái đẹp”. Mỗi tác phẩm của ông là một bài ca vềcái đẹp của con người, của cuộc sống với tình cảm, sự gắn bó sâu nặng với quê hương, đấtnước. Nguyễn Tuân được người đọc đặc biệt chú ý về phong cách nghệ thuật rất riêng vàrất độc đáo mà phong cách ấy được gắn với chữ “ngông” và sự tài hoa, uyên bác. Nếu nhưtrước cách mạng, văn học của Nguyễn Tuân chạm đến lòng người bởi vẻ đẹp tài hoa củanhững con người "một thời vang bóng" như Huấn Cao thì sau cách mạng, ông khiến ngườiđọc rung cảm bởi sự tinh tế và tài năng trong việc vẽ nên những nét đẹp gân guốc nhưnggần gũi, bình dị của thiên nhiên và đời sống con người. “Người lái đò sông Đà” là tácphẩm tiêu biểu cho sáng tác của Nguyễn Tuân sau cách mạng. - MB2 Từ Vang bóng một thời 1940 đến Sông Đà 1960, con đường sáng tạo vănchương cùa Nguyễn Tuân đã trải qua 20 năm tròn. Tùy bút Sông Đà làm cho chân dungvăn học của Nguyễn Tuân thêm tươi sáng, rạng rỡ. Với 15 tùy bút và một bài thơ phácthảo, Sông Đà đã khẳng định vị trí vẻ vang của Nguyễn Tuân trong lịch sử văn học ViệtNam hiện đại, tô đậm một phong cách nghệ thuật uyên bác, độc đáo và tài hoa để ta thêmyêu mến tự hào. Người lái đò Sông Đà rút trong tập tùy bút Sông Đà thể hiện cá tính sáng tạo củaNguyễn Tuân trên một tầm cao phát triển mới. Là nhà văn của những tính cách phi thường,Nguyễn Tuân phát hiện, miêu tả con người Tây Bắc mang bao phẩm chất tuyệt đẹp mà ônggọi đó là “chất vàng mười” của tâm hồn. Là một con người yêu thiên nhiên tha thiết, ôngnói về cảnh sắc sông Đà với những phát hiện hết sức tinh tế và độc đáo về núi và sông, vềcây cỏ trên một vùng đất nước bao la, hùng vĩ và thơ mộngB. PHÂN TÍCH MỘT SỐ ĐOẠN VĂN TRONG TÁC PHẨMĐoạn số 1Hùng vĩ của sông Đà không phải chỉ có thác đá. Mà nó còn là những cảnh đá bờsông, dựng vách thành, mặt sông chỗ ấy lúc chỉ đúng ngọ mới có mặt trời. Có vách đáthành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu. Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá quabên kia vách. Có quãng con nai con hỗ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia. Ngồi trongkhoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hèmột cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vửa tắtphụt đèn như quãng mặt ghềnh Hát Loóng, dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóngxô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ suýt bất cứ người1 NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG quát về tác phẩm1. Người lái đò sông Đà là bài tùy bút xuất sắc của Nguyễn Tuân được in trong tập Sông Đà năm 1960. Sông Đà là thành quả chuyến đi gian khổ và hào hứng của Nguyễn Tuân lên miền đất Tây Bắc xa xôi và rộng lớn những năm 1958 – 1960, chuyến đi không chỉ nhằm thỏa mãn niềm khát khao xê dịch mà chủ yếu để tìm kiếm chất vàng trong vẻ đẹp hùng vĩ và thơ mộng của thiên nhiên Tây Bắc, phát hiện thứ vàng mười đã qua thử lửa của tâm hồn con người Tây Bắc trong cuộcsống hằng ngày của họ. Tác phẩm đã thể hiện nét đặc sắc nhất trong phong cách nghệ thuật Nguyễn đề từ của tùy bút Người lái đó sông Đà- Đẹp vậy thay, tiếng hát trên dòng sông! Wladyslaw Broniewski – Ba Lan Nhà văn đã mượn câu thơ mang cấu trúc cảm thán để bộc lộ những xúc cảm đang trào dâng mãnh liệt trong lòng. Tiếng hát trên dòng sông có thể là tiếng hát của người chèo đò, kéo thuyền, vượt thác, tiếng hát thể hiện tâm hồn lạc quan, yêu đời, yêu thiên nhiên và cuộc sống lao động của con người Tây Bắc; cũng có thể hiểu là tiếng hát say mê, phấn khích đầy ngưỡng mộ của nhà văn trước vẻ đẹp của dòng sông. Lời đề từ do đó đã thể hiện cảm hứng chủ đạo của tùy bút, đó là tình yêu đắm say, tha thiết của nhà văn với thiên nhiên và con người trên dòng sông Chúng thủy giai đông tầu – Đà Giang độc bắc lưu Nguyễn Quang Bích Hai câu thơ chữ Hán đã đề cập tới một nét độc đáo của sông Đà khi mọi dòng sôngđều chảy về hướng đông, chỉ có sông Đà một mình chảy theo hướng Bắc – đó cũnglà đặc điểm khơi gợi hứng thú khám phá và chiêm ngưỡng của một nhà văn suốt đời tìm kiếm cái Đẹp và sự độc đáo. Nhưng khi mượn câu thơ xưa làm lời đề từ, cólẽ tác giả Người lái đò sông Đà không chỉ muốn nhắc đến sự ngược ngạo của dòng sông mà còn nhằm khẳng định cá tính độc đáo của mình trong dòng sông văn chương, đó là văn phong đầy sáng tạo của một nhà văn có y thức sâu sắc về cái Tôicá nhân, về Bản Ngã, về cá tính riêng trong sáng tạo nghệ Tìm hiểu đoạn Phân tích hình tượng dòng sông ngòi bút của một nhà văn luôn khám phá thế giới ở phương diện văn hóa, thẩm mĩ, trong tùy bút Người lái đò sông Đà, dòng sông Đà đã hiện lên như một công trình mĩ thuật kì vĩ, tuyệt vời của tạo hóa với hai ấn tượng sâu đậm dữ dằn, hung bạo và thơ mộng, trữ Dòng sông hung nhà văn của những cảm giác mãnh liệt luôn có hứng thú đặc biệt với núi cao, rừng thiêng, với gió bão và thách ghềnh dữ dội, ngòi bút của Nguyễn Tuân tung hoành sảng khoái giữa dòng thác ngôn từ. Nhà văn tài hoa đã khiến ngôn từ dựng lên ghềnh thác, khiến nhịp điệu tạo thành sóng gió, dùng những thao tác so

tùy bút sông đà 1960